Vị Thượng tướng, Anh hùng LLVTND, lừng danh chiến trường vừa được đặt tên phố ở Hà Nội là ai? Vị Thượng tướng, Anh hùng LLVTND, lừng danh chiến trường vừa được đặt tên phố ở Hà Nội là ai? , Người xứ Nghệ Kiev
Xuân Huy
Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh năm 1926, tại tỉnh Ninh Bình cũ. Từ một chiến sĩ, ông trở thành Trung đoàn trưởng trong kháng chiến chống Pháp, rồi lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí chỉ huy cấp sư đoàn, mặt trận, quân đoàn và quân khu. Gần như toàn bộ cuộc đời binh nghiệp của ông gắn với những chiến trường ác liệt nhất của đất nước.
Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Cầu Giấy, TP Hà Nội, mới đây đã chức lễ gắn biển Công viên An Hòa và phố Nguyễn Hữu An.
Theo quyết định, phố Nguyễn Hữu An có chiều dài khoảng 830m, rộng 25m. Công viên An Hòa có diện tích khoảng 27,78ha, trong đó mặt nước hồ điều hòa khoảng 19ha và diện tích cây xanh khoảng 8,78ha.
Đại biểu thực hiện nghi thức gắn biển phố Nguyễn Hữu An, phường Cầu Giấy. Ảnh: Sở VHTTDL Hà Nội.
Phát biểu tại buổi lễ, bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND phường Cầu Giấy khẳng định, việc đặt tên 2 công trình trên địa bàn phường Cầu Giấy là dấu mốc có ý nghĩa trong quá trình xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, đồng thời góp phần gìn giữ, lan tỏa những giá trị lịch sử, văn hóa trong không gian đô thị hôm nay. Đây cũng là cách giáo dục thế hệ trẻ rằng diện mạo văn minh, hiện đại của Cầu Giấy hôm nay được xây dựng trên nền tảng lịch sử, văn hóa và truyền thống được các thế hệ gìn giữ, trao truyền.
Thượng tướng, AHLLVTND Nguyễn Hữu An là ai?
Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ngày 9/10/1926 tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình cũ. Tháng 8/1945, ông tình nguyện gia nhập Giải phóng quân ở Yên Bái, được giao làm Tiểu đội trưởng. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Gần như toàn bộ cuộc đời binh nghiệp của ông gắn với những chiến trường ác liệt nhất của đất nước. Từ một chiến sĩ, đồng chí Nguyễn Hữu An trở thành Trung đoàn trưởng trong kháng chiến chống Pháp, rồi lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí chỉ huy cấp sư đoàn, mặt trận, quân đoàn và quân khu.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Nguyễn Hữu An tham gia và chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng như Bông Lau - Lũng Phầy, Đông Khê, Thất Khê, Mộc Châu, Bình Liêu...
Đồng chí Nguyễn Hữu An (ngoài cùng bên trái) cùng đồng đội tại chiến trường Trị Thiên - Huế năm 1973. Ảnh tư liệu gia đình.
Tại Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, khi mới 28 tuổi, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174. Đơn vị được giao nhiệm vụ tiến công cứ điểm đồi A1, một trong những vị trí phòng thủ mạnh nhất của quân Pháp tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Trận đánh kéo dài, ác liệt nhưng cuối cùng Trung đoàn 174 đã chiếm được A1, mở cửa cho quân ta phát triển tiến công vào trung tâm Mường Thanh. Chiến dịch kết thúc thắng lợi, góp phần quyết định vào việc buộc quân Pháp phải ký Hiệp định Geneva.
Sau năm 1954, đồng chí Nguyễn Hữu An tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí trong quân đội. Năm 1955, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Sư đoàn 316; tháng 6/1957 làm Tham mưu phó Quân khu Tây Bắc. Trên các cương vị này, ông tham gia xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, ổn định tổ chức và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu.
Nhưng những năm tháng chiến tranh chưa kết thúc. Khi Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh, đồng chí Nguyễn Hữu An lại được điều vào chiến trường miền Nam.
Ia Đrăng và cách đánh một đối thủ mạnh hơn nhiều lần
Tháng 9/1964, ông vào Quân khu 4 nhận nhiệm vụ Tư lệnh Sư đoàn 325. Sau thời gian gấp rút chấn chỉnh lực lượng, bổ sung trang bị, sư đoàn hành quân vào chiến trường miền Nam.
Khi đến Tây Nguyên, lực lượng sư đoàn bị phân tán, chỉ còn Trung đoàn 101 ở lại Mặt trận B3. Đồng chí Nguyễn Hữu An được bổ sung vào Đảng ủy mặt trận, giữ chức Phó Tư lệnh Mặt trận B3.
Thượng tướng Nguyễn Hữu An. Ảnh: BQP.
Trước cách đánh nhỏ lẻ của đối phương và hệ thống ấp chiến lược, ông đề xuất tập trung lực lượng đánh vào các quận lỵ, từ đó phá thế kiểm soát của đối phương. Trong vòng một tháng, Trung đoàn 101 do ông trực tiếp chỉ huy tiến công, giải phóng Tu Mơ Rông, Đăk Tô, Đăk Sút, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm quân địch và giải phóng hàng nghìn dân.
Thất bại trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", từ năm 1965 Mỹ chuyển sang "Chiến tranh cục bộ", đưa quân chiến đấu Mỹ trực tiếp tham chiến.
Tháng 9/1965, Sư đoàn Kỵ binh Không vận số 1 Mỹ được đưa lên An Khê, án ngữ một vị trí chiến lược trên đường 19. Đây là lực lượng cơ động mạnh, được hỗ trợ bởi máy bay, pháo binh và khả năng tiếp tế vượt trội.
Để đối phó, Bộ Tư lệnh Mặt trận B3 quyết định mở Chiến dịch Plei Me, đồng chí Nguyễn Hữu An được giao làm Phó Tư lệnh chiến dịch. Ông sử dụng cách đánh "vây điểm diệt viện", tổ chức lực lượng bao vây đồn Plei Me, đồng thời phục kích lực lượng đối phương đến giải vây.
Sau thất bại này, quân Mỹ mở cuộc hành quân "tìm diệt" bộ đội chủ lực Tây Nguyên. Đầu tháng 11/1965, các đơn vị thuộc Sư đoàn Kỵ binh Không vận số 1 Mỹ tiến vào khu vực Ia Đrăng.
Trước một đối thủ có ưu thế áp đảo về hỏa lực, cơ động và không quân, bài toán đặt ra với Bộ Tư lệnh Mặt trận B3 là làm thế nào để vừa đánh được quân Mỹ vừa hạn chế thương vong.
Đồng chí Nguyễn Hữu An cùng Bộ Tư lệnh thống nhất phương án vừa đánh vừa tìm hiểu đối phương, liên tục điều chỉnh cách đánh. Ông đề nghị được trực tiếp chỉ huy các Trung đoàn 33, 66 và 320 tổ chức thế trận đối phó quân Mỹ.
Ngày 14/11/1965, khi quân Mỹ đổ bộ xuống khu vực gần núi Chư Pông, ông Nguyễn Hữu An lập sở chỉ huy ngay giữa khu vực vừa hứng chịu bom B52 để trực tiếp chỉ đạo Trung đoàn 66.
Quân ta sử dụng cách đánh áp sát, hạn chế ưu thế không quân và pháo binh của đối phương. Các đơn vị liên tục bao vây, chia cắt, tiến công, dồn quân Mỹ vào thung lũng Ia Đrăng.
Kết quả, một tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt hoàn toàn, một tiểu đoàn khác bị thiệt hại nặng.
Hai thập niên sau, Trung tướng Harold Moore, nguyên Tiểu đoàn trưởng kỵ binh không vận Mỹ tham chiến tại Ia Đrăng, đánh giá trận đánh này đã làm thay đổi cuộc chiến ở Việt Nam. Ông cũng bày tỏ sự khâm phục đối với khả năng chỉ huy của đồng chí Nguyễn Hữu An và bộ đội Việt Nam.
Ia Đrăng trở thành một trong những trận đánh tiêu biểu cho cách vận dụng chiến thuật của quân đội Việt Nam trước một đối thủ có ưu thế vượt trội về công nghệ và hỏa lực.
Những quyết định giữa chiến trường Quảng Trị
Trong giai đoạn 1969-1972, đồng chí Nguyễn Hữu An nhiều lần được điều động tới những nơi chiến trường khó khăn để cùng cấp ủy, chỉ huy các đơn vị tìm phương án tác chiến.
Đầu năm 1971, đồng chí chỉ huy Sư đoàn 308 tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, góp phần đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719.
Cuối năm 1971 và đầu năm 1972, ông tiếp tục tham gia Chiến dịch Cánh đồng Chum.
Đến giữa năm 1972, khi chiến trường Quảng Trị diễn ra quyết liệt, đồng chí Nguyễn Hữu An được điều vào giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Trị - Thiên. Sau đó, ông trực tiếp tham gia chỉ huy các trận đánh nhằm ngăn chặn những cuộc hành quân tái chiếm vùng giải phóng của đối phương.
Đồng chí Nguyễn Hữu An (đeo kính) cùng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc đánh vào Dinh Độc Lập. Ảnh: Báo Nhân dân.
Đáng chú ý, trong giai đoạn phản công tại Quảng Trị tháng 8/1972, Sư đoàn 308 bị tổn thất lớn, nhiều đại đội chỉ còn vài chục quân. Trong điều kiện chiến đấu liên tục và chịu sức ép lớn, đồng chí Nguyễn Hữu An trực tiếp xuống tuyến đầu khảo sát tình hình.
Từ thực tế chiến trường, ông nhận thấy tình thế ở Quảng Trị có những điểm tương đồng với Chiến dịch Cánh đồng Chum: quân ta ban đầu tiến công nhanh, nhưng khi lực lượng bị kéo xa hậu phương, không kịp bổ sung, sức chiến đấu giảm dần; trong khi đối phương có khả năng cơ động nhanh để phản công và tái chiếm những khu vực đã mất.
Từ đó, ông đề nghị chuyển từ phương án "tác chiến phản công" sang "tác chiến phòng ngự", nhằm giữ đất và giảm thương vong.
Khi được Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp hỏi liệu có thể giữ được trận địa nếu chuyển sang phòng ngự, đồng chí Nguyễn Hữu An khẳng định ông không thể bảo đảm tuyệt đối nhưng có thể giữ được phần lớn trận địa.
Quyết định này thể hiện một đặc điểm xuyên suốt trong phong cách chỉ huy của ông: quyết đoán nhưng không chủ quan, luôn xuất phát từ thực tế chiến trường để lựa chọn phương án phù hợp.
"Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến"
Đầu năm 1975, đồng chí Nguyễn Hữu An trở về nước sau thời gian học tập tại Liên Xô và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 2.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Quân đoàn 2 là một trong những lực lượng chủ lực cơ động trên hướng Trị - Thiên và Đà Nẵng.
Từ ngày 5 đến 29/3, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Hữu An, Quân đoàn 2 phối hợp với các lực lượng tiến công, lần lượt giải phóng Trị Thiên - Huế, sau đó đánh vào Đà Nẵng. Những thắng lợi này góp phần làm tan rã hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn tại miền Trung.
Đầu tháng 4/1975, khi các hướng chiến trường đồng loạt tiến về Sài Gòn, Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ tham gia lực lượng tiến công theo hướng ven biển.
Đồng chí Nguyễn Hữu An và Bộ Tư lệnh Quân đoàn đề ra phương châm hành quân "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến". Các đơn vị được tổ chức thành những khối chiến đấu có khả năng vừa tự bảo vệ, vừa mở đường, vừa tiến công trong hành tiến.
Đây là cuộc hành quân dài gần 1.000 km, diễn ra với tốc độ cao trong điều kiện chiến trường liên tục thay đổi. Tăng - thiết giáp được sử dụng làm lực lượng đột kích chủ yếu, bỏ qua những mục tiêu nhỏ để hướng tới các mục tiêu có ý nghĩa quyết định.
Cách tổ chức và vận dụng lực lượng này góp phần hình thành mũi thọc sâu của Quân đoàn 2 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngày 30/4/1975, những chiếc xe tăng của Quân đoàn 2 tiến vào Dinh Độc Lập, đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ chiến trường đến công tác xây dựng quân đội
Sau năm 1975, đồng chí Nguyễn Hữu An tiếp tục chỉ huy Quân đoàn 2 tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam trong giai đoạn 1977-1981.
Sau đó, đồng chí lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, quyền Tư lệnh Quân khu 2 (1984-1987); Giám đốc Học viện Lục quân (1988-1991); Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao, sau này là Học viện Quốc phòng (1991-1995).
Những cương vị này đánh dấu giai đoạn đồng chí Nguyễn Hữu An chuyển từ một vị tướng trực tiếp chỉ huy trên chiến trường sang công tác xây dựng, đào tạo cán bộ và hoạch định quân sự.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đánh giá đồng chí Nguyễn Hữu An là một trong những "tướng trận mạc", thường được giao những nhiệm vụ khó khăn, trong những tình huống phức tạp và khẩn trương. Theo Đại tướng, tướng Nguyễn Hữu An là một nhà chỉ huy quân sự "quyết đoán và mưu lược".
Đại tướng Văn Tiến Dũng nhận xét con đường chiến đấu và trưởng thành của Thượng tướng Nguyễn Hữu An trải dài trên nhiều chiến trường, qua nhiều trận đánh, chiến dịch lớn và những thời điểm quyết định của cuộc chiến.
Đã từ lâu, trong QĐND Việt Nam có câu nói về tài đánh trận của các vị tướng: “Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn” (Đại tướng Lê Trọng Tấn, Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Thiếu tướng Hoàng Đan, Thượng tướng Nguyễn Chơn).
Gần nửa thế kỷ trong quân ngũ, Thượng tướng Nguyễn Hữu An để lại dấu ấn tại những chiến dịch quan trọng nhất của 2 cuộc kháng chiến và trong sự nghiệp xây dựng quân đội sau chiến tranh.
Với những đóng góp đó, ông được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhất, ba Huân chương Quân công, ba Huân chương Chiến công, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Tên tuổi Thượng tướng Nguyễn Hữu An gắn với những chiến trường ác liệt nhất, nhưng dấu ấn nổi bật của ông không chỉ nằm ở những chiến thắng. Đó còn là khả năng đánh giá tình hình, lựa chọn cách đánh phù hợp và đặc biệt là bản lĩnh của một người chỉ huy luôn có mặt ở những nơi khó khăn nhất của chiến trường.